Đưa tin giả lên mạng xã hội bị xử lý như thế nào? Quy định mới từ ngày 01/7/2026

 

Trong thời đại công nghệ số, mạng xã hội như Facebook, TikTok, YouTube, Zalo trở thành kênh thông tin phổ biến giúp mọi người dễ dàng chia sẻ và tiếp cận thông tin. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của mạng xã hội, tình trạng đăng tải, chia sẻ thông tin sai sự thật, tin giả, tin chưa được kiểm chứng ngày càng gia tăng, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức cũng như tác động tiêu cực đến an ninh, trật tự xã hội. Nhiều người cho rằng việc đăng một bài viết hoặc chia sẻ lại thông tin trên mạng xã hội là quyền cá nhân và không phải chịu trách nhiệm pháp lý. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành, hành vi đưa tin giả lên mạng xã hội có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt rất cao, thậm chí bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu gây hậu quả nghiêm trọng.

1. Thế nào là hành vi đưa tin giả lên mạng xã hội?

Pháp luật hiện hành chưa đưa ra định nghĩa chính thức về “tin giả”. Tuy nhiên, có thể hiểu tin giả là thông tin không đúng sự thật, thông tin bịa đặt, xuyên tạc hoặc chưa được kiểm chứng nhưng được đăng tải, chia sẻ như thông tin có thật nhằm tác động đến nhận thức của người khác.

Các hành vi thường gặp bao gồm:

  • Đăng tải thông tin bịa đặt về cá nhân, tổ chức;
  • Cắt ghép hình ảnh, video nhằm tạo nội dung sai sự thật;
  • Tung tin đồn thất thiệt về dịch bệnh, thiên tai, tai nạn;
  • Xuyên tạc chủ trương, chính sách của Nhà nước;
  • Chia sẻ lại các bài viết, video chứa thông tin sai sự thật.

2. Đưa tin giả lên mạng xã hội có vi phạm pháp luật không?

Câu trả lời là CÓ.

Theo khoản 1 Điều 7 Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/07/2026, hành vi sử dụng không gian mạng để cung cấp thông tin sai sự thật gây hoang mang trong Nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế – xã hội hoặc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân là hành vi bị nghiêm cấm.

Điều 7. Các hành vi bị nghiêm cấm về an ninh mạng

  1. Đăng tải, phát tán thông tin có nội dung sau trên không gian mạng:
  2. a) Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm: tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; chiến tranh tâm lý, kích động chiến tranh xâm lược, chia rẽ, gây thù hận giữa các dân tộc, tôn giáo và nhân dân các nước; xúc phạm dân tộc, quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, vĩ nhân, lãnh tụ, danh nhân, anh hùng dân tộc;
  3. b) Xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc;
  4. c) Bịa đặt, vu khống, thông tin sai sự thật, xâm phạm nhân phẩm, danh dự, uy tín của người khác hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác;
  5. d) Sai sự thật gây hoang mang trong Nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế – xã hội, gây khó khăn cho hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; thông tin bịa đặt, sai sự thật về sản phẩm, hàng hóa, tiền, trái phiếu, tín phiếu, công trái, séc và các loại giấy tờ có giá khác; thông tin bịa đặt, sai sự thật trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, thương mại điện tử, kinh doanh theo phương thức đa cấp, chứng khoán.

Như vậy, việc đăng tải hoặc phát tán tin giả trên mạng xã hội không chỉ vi phạm đạo đức xã hội mà còn là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị xử lý theo quy định.

3. Đăng tin giả trên mạng xã hội bị phạt bao nhiêu tiền?

Nghị định số 174/2026/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, giao dịch điện tử và công nghệ thông tin có hiệu lực từ ngày 01/07/2026. Đây là chế tài được áp dụng phổ biến hiện nay.

Theo điểm a khoản 1 Điều 95 Nghị định số 174/2026/NĐ-CP của Chính phủ, người có hành vi cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân trên mạng xã hội sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính.

Mức phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm.

Đặc biệt, trường hợp thông tin sai sự thật gây hoang mang trong Nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế – xã hội hoặc ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì mức phạt có thể lên đến 50.000.000 đồng theo khoản 2 Điều 95 Nghị định số 174/2026/NĐ-CP.

Ngoài phạt tiền, người vi phạm còn có thể bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả như:

  • Buộc gỡ bỏ bài viết vi phạm;
  • Buộc xóa bỏ thông tin sai sự thật;
  • Buộc chấm dứt hành vi vi phạm.

4. Chia sẻ lại tin giả có bị xử phạt hay không?

Nhiều người cho rằng chỉ người tạo ra tin giả mới phải chịu trách nhiệm pháp lý. Tuy nhiên, quan điểm này là không chính xác.

Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 95 Nghị định số 174/2026/NĐ-CP quy định xử phạt đối với cả hành vi: “Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật…”

Như vậy, người chia sẻ lại thông tin sai sự thật trên Facebook, TikTok, Zalo hoặc các nền tảng mạng xã hội khác vẫn có thể bị xử phạt nếu hành vi đó thuộc trường hợp pháp luật cấm.

Do đó, trước khi chia sẻ bất kỳ thông tin nào, người sử dụng mạng xã hội cần kiểm chứng nguồn tin và độ chính xác của nội dung.

5. Người bị đưa tin sai sự thật có quyền yêu cầu gì?

Khi bị đăng tải thông tin sai sự thật trên mạng xã hội, cá nhân hoặc tổ chức bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Theo khoản 1 Điều 34 Bộ luật Dân sự năm 2015 “Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.”

Ngoài ra, Điều 584 và Điều 592 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.

Theo đó, người bị đưa tin sai sự thật có quyền:

  • Yêu cầu gỡ bỏ thông tin vi phạm;
  • Yêu cầu xin lỗi công khai;
  • Yêu cầu cải chính công khai;
  • Yêu cầu bồi thường thiệt hại vật chất;
  • Yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần;
  • Tố giác hành vi vi phạm đến cơ quan có thẩm quyền.

6. Khi nào hành vi đưa tin giả bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Không phải mọi trường hợp đăng tin giả đều bị xử lý hình sự. Tuy nhiên, nếu hành vi có tính chất nghiêm trọng hoặc gây hậu quả lớn thì người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tội vu khống

Theo Điều 156 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025), người nào sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vu khống.

Mức hình phạt cao nhất lên đến 07 năm tù.

Tội làm nhục người khác

Theo Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025), người nào sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người khác có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Mức hình phạt cao nhất lên đến 05 năm tù.

Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông

Theo Điều 288 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025), người nào đưa lên mạng các thông tin trái pháp luật gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã hội hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho người khác có thể bị xử lý hình sự.

Khung hình phạt cao nhất lên đến 07 năm tù.

Kết luận

Từ ngày 01/7/2026, hành vi đăng tải hoặc chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật trên mạng xã hội là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt đến 50 triệu đồng, buộc gỡ bỏ nội dung vi phạm. Trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác thì người vi phạm còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì vậy, mỗi cá nhân cần nâng cao ý thức khi sử dụng mạng xã hội, kiểm chứng thông tin trước khi đăng tải hoặc chia sẻ để tránh những hậu quả pháp lý không đáng có. Việc sử dụng mạng xã hội một cách có trách nhiệm không chỉ giúp bảo vệ bản thân mà còn góp phần xây dựng môi trường thông tin lành mạnh và an toàn.

PHÒNG PHÁP LÝ – VĂN PHÒNG LUẬT SƯ ĐỨC TRỌNG

Trụ sở chính Tầng 3, Tòa nhà Thương mại TTC Plaza Đức Trọng, 713 Quốc lộ 20, Đức Trọng, Lâm Đồng.
Văn phòng tại TP. HCM 520/75 Quốc lộ 13, phường Hiệp Bình, TP. Hồ Chí Minh.
Hotline 0961 523 300
Website luatductrong.com
Email ls.quynhmi@gmail.com
Văn phòng Luật sư Đức Trọng
Lấy Đức làm Trọng – Chấp pháp nghiêm minh

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *