Dưới đây là các lưu ý quan trọng khi soạn thảo điều khoản về “hiệu lực hợp đồng” theo Bộ luật Dân sự 2015. Về nguyên tắc, cần phân biệt (i) điều kiện để hợp đồng có hiệu lực, (ii) thời điểm giao kết, và (iii) thời điểm bắt đầu có hiệu lực.
- Trước hết, phải bảo đảm hợp đồng “có hiệu lực” về mặt pháp lý
Theo Điều 117 BLDS 2015, giao dịch dân sự có hiệu lực khi đáp ứng các điều kiện cơ bản:
- Chủ thể có năng lực pháp luật, năng lực hành vi phù hợp;
- Các bên hoàn toàn tự nguyện;
- Mục đích, nội dung không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội;
- Hình thức phải phù hợp nếu pháp luật quy định hình thức là điều kiện có hiệu lực.
Khi soạn hợp đồng, nên kiểm tra riêng từng yếu tố như: Tư cách và thẩm quyền của người ký; sự tự nguyện; đối tượng/mục đích hợp pháp; hình thức hợp đồng.
Ví dụ, đối với hợp đồng của doanh nghiệp, không nên chỉ ghi tên công ty và người đại diện mà nên kiểm tra người ký có đúng là người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền hợp lệ hay không.
- Phải phân biệt “thời điểm giao kết” và “thời điểm có hiệu lực”
* Thời điểm giao kết: Theo Điều 400 Bộ luật Dân sự 2015:
- Hợp đồng được giao kết khi bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết;
- Với hợp đồng bằng văn bản, thông thường là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hoặc thể hiện sự chấp nhận trên văn bản;
- Với hợp đồng bằng lời nói, là thời điểm các bên thỏa thuận về nội dung hợp đồng.
* Thời điểm có hiệu lực: Điều 401 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác.
Do đó, không nên mặc nhiên đồng nhất “ngày ký hợp đồng” với “ngày hợp đồng bắt đầu có hiệu lực”.
- Khi soạn điều khoản hiệu lực, nên ghi rõ “ngày bắt đầu có hiệu lực”
Có thể lựa chọn một trong các cách sau tùy giao dịch.
Trường hợp 1 – Hiệu lực ngay khi ký
Ví dụ:
“Hợp đồng này có hiệu lực kể từ ngày được đại diện hợp pháp của các Bên ký kết.”
Trường hợp 2 – Có hiệu lực từ một ngày xác định
“Hợp đồng có hiệu lực kể từ ngày 01/09/2026.”
Trường hợp 3 – Có hiệu lực khi xảy ra một sự kiện
Ví dụ:
“Hợp đồng có hiệu lực kể từ ngày Bên A hoàn tất việc thanh toán khoản đặt cọc theo Điều 3 của Hợp đồng.”
Hoặc:
“Hợp đồng có hiệu lực kể từ ngày các Bên hoàn tất việc bàn giao mặt bằng theo Biên bản bàn giao.”
- Phải kiểm tra yêu cầu về hình thức của từng loại hợp đồng
Theo Bộ luật Dân sự 2015, hình thức giao dịch có thể là: lời nói, văn bản, hành vi cụ thể và trong trường hợp luật quy định thì hình thức là điều kiện có hiệu lực.
Nếu vi phạm điều kiện về hình thức, giao dịch về nguyên tắc có thể bị vô hiệu theo Điều 129 BLDS, mặc dù pháp luật có một số cơ chế ngoại lệ cho trường hợp các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ và đáp ứng các điều kiện luật định.
Lưu ý: Không nên hiểu ngoại lệ “2/3 nghĩa vụ” là cứ thực hiện 2/3 hợp đồng thì mặc nhiên hợp đồng có hiệu lực. Việc công nhận hiệu lực trong trường hợp Điều 129 quy định còn phụ thuộc yêu cầu và quyết định của Tòa án.
- Nếu hợp đồng cần công chứng/chứng thực, phải quy định rõ thời điểm hiệu lực
Đối với những giao dịch mà pháp luật chuyên ngành yêu cầu công chứng, chứng thực hoặc điều kiện pháp lý khác, nên tránh viết:
“Hợp đồng có hiệu lực ngay sau khi ký.”
Thay vào đó, cần xác định chính xác hiệu lực phát sinh sau khi hoàn thành thủ tục bắt buộc, nếu pháp luật quy định như vậy.
Có thể soạn thảo:
“Hợp đồng có hiệu lực kể từ thời điểm được công chứng hợp lệ và các điều kiện có hiệu lực khác theo quy định của pháp luật được đáp ứng.”
- Nên quy định rõ “thời hạn hiệu lực” và “thời hạn thực hiện”
Ví dụ:
“Hợp đồng có hiệu lực kể từ ngày 01/09/2026 và có thời hạn 24 tháng.”
Khác với:
“Hợp đồng có hiệu lực kể từ ngày 01/09/2026; thời hạn cung cấp dịch vụ là 12 tháng kể từ ngày Bên B bắt đầu cung cấp dịch vụ.”
Trong thực tế nên tách thành:
Điều X. Hiệu lực hợp đồng
- Thời điểm bắt đầu có hiệu lực.
- Thời hạn của hợp đồng.
- Điều kiện gia hạn.
- Thời điểm chấm dứt.
- Các nghĩa vụ vẫn tiếp tục sau khi hợp đồng chấm dứt.
- Đặc biệt quan trọng: quy định “các điều khoản tiếp tục có hiệu lực sau khi hợp đồng chấm dứt”
Bởi một số nghĩa vụ có bản chất phải tiếp tục sau thời điểm chấm dứt, chẳng hạn: bảo mật thông tin; bảo hành; bồi thường; thanh toán các khoản còn tồn đọng; phạt vi phạm; giải quyết tranh chấp; sở hữu trí tuệ; lưu trữ hồ sơ; nghĩa vụ hoàn trả tài sản.
Có thể quy định:
“Việc Hợp đồng chấm dứt hoặc hết thời hạn không làm ảnh hưởng đến các quyền, nghĩa vụ đã phát sinh trước thời điểm chấm dứt và các điều khoản theo bản chất hoặc theo thỏa thuận của các Bên vẫn tiếp tục có hiệu lực sau khi Hợp đồng chấm dứt, bao gồm nhưng không giới hạn ở các điều khoản về bảo mật, thanh toán, bồi thường thiệt hại, sở hữu trí tuệ và giải quyết tranh chấp.”
- Cần quy định rõ hiệu lực của phụ lục hợp đồng
Nên có điều khoản:
“Phụ lục là bộ phận không tách rời của Hợp đồng và có giá trị pháp lý như Hợp đồng.”
Và nên bổ sung:
“Trường hợp có mâu thuẫn giữa Hợp đồng và Phụ lục, quy định tại (Phụ lục/Hợp đồng) được ưu tiên áp dụng, trừ khi các Bên có thỏa thuận khác bằng văn bản.”
PHÒNG PHÁP LÝ – VĂN PHÒNG LUẬT SƯ ĐỨC TRỌNG
| Trụ sở chính | Tầng 3, Tòa nhà Thương mại TTC Plaza Đức Trọng, 713 Quốc lộ 20, Đức Trọng, Lâm Đồng. |
| Văn phòng tại TP. HCM | 520/75 Quốc lộ 13, phường Hiệp Bình, TP. Hồ Chí Minh. |
| Hotline | 0961 523 300 |
| Website | luatductrong.com |
| ls.quynhmi@gmail.com |
