Trường hợp nào bị cáo được hưởng án treo?

Án treo là một chế định được pháp luật hình sự quy định nhằm cho phép người bị xử phạt tù được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, khi xét thấy không cần thiết phải bắt họ chấp hành hình phạt tù.

Tuy nhiên, không phải cứ bị xử phạt tù từ 03 năm trở xuống là đương nhiên được hưởng án treo. Người bị kết án phải đáp ứng đồng thời nhiều điều kiện theo quy định pháp luật.

  1. Căn cứ pháp lý về án treo

Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, quy định về án treo. Việc xem xét, quyết định cho hưởng án treo hiện được hướng dẫn bởi Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 và văn bản hợp nhất của Tòa án nhân dân tối cao.

  1. Điều kiện để bị cáo được hưởng án treo?

Theo quy định hướng dẫn, người bị xử phạt tù có thể được xem xét cho hưởng án treo khi đồng thời đáp ứng các điều kiện chủ yếu sau:

Thứ nhất, mức hình phạt tù không quá 03 năm

Đây là điều kiện đầu tiên để xem xét án treo.

Nếu Tòa án tuyên mức hình phạt trên 03 năm tù thì về nguyên tắc không đủ điều kiện hưởng án treo.

Lưu ý, mức án 03 năm tù là mức hình phạt mà Tòa án quyết định sau khi lượng hình, không phải mức cao nhất của khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố.

Thứ hai, bị cáo có nhân thân tốt

Người phạm tội phải có nhân thân phù hợp theo quy định, về cơ bản là ngoài lần phạm tội này đã chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân tại nơi cư trú, nơi làm việc.

Pháp luật cũng có quy định đối với một số trường hợp người đã từng bị kết án, được xóa án tích hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật nhưng đáp ứng các điều kiện nhất định thì vẫn có thể được xem xét.

Do đó, khi đánh giá khả năng được hưởng án treo cần kiểm tra kỹ tiền án, tiền sự, thời điểm phạm tội và tình trạng án tích của bị cáo.

Thứ ba, có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên

Người bị xử phạt tù phải có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có ít nhất 01 tình tiết thuộc khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đồng thời, về nguyên tắc, người phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Trường hợp có tình tiết tăng nặng thì số tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng từ 02 tình tiết trở lên, đồng thời phải có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 1 Điều 51.

Điều 51. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

  1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
  2. a) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;
  3. b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;
  4. c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;
  5. d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;

  1. e) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;
  2. g) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;
  3. h) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;
  4. i) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;
  5. k) Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;
  6. l) Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;
  7. m) Phạm tội do lạc hậu;
  8. n) Người phạm tội là phụ nữ có thai;
  9. o) Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;
  10. p) Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;
  11. q) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;
  12. r) Người phạm tội tự thú;
  13. s) Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải;
  14. t) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện hoặc điều tra tội phạm;
  15. u) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;
  16. v) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;
  17. x) Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, người có công với cách mạng.

Việc có tình tiết giảm nhẹ không đồng nghĩa đương nhiên được hưởng án treo, mà còn phải đáp ứng các điều kiện khác.

Thứ tư, có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định

Người được xem xét hưởng án treo phải có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện việc giám sát, giáo dục.

Theo hướng dẫn, nơi cư trú rõ ràng là nơi thường trú hoặc tạm trú có địa chỉ cụ thể; nơi làm việc ổn định là nơi người phạm tội làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên theo hợp đồng lao động hoặc quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Thứ năm, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội

Đây là điều kiện quan trọng để Tòa án quyết định có cho hưởng án treo hay không.

Tòa án phải xem xét liệu người phạm tội có khả năng tự cải tạo hay không, đồng thời việc cho hưởng án treo có gây nguy hiểm cho xã hội hoặc ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hay không.

Nếu xét thấy chỉ cần giao người bị kết án cho cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương giám sát, giáo dục mà vẫn bảo đảm mục đích cải tạo, phòng ngừa thì Tòa án có thể cho hưởng án treo.

  1. Những trường hợp không được hưởng án treo

Bên cạnh việc đáp ứng các điều kiện nêu trên, người phạm tội còn phải không thuộc trường hợp bị loại trừ khỏi việc hưởng án treo theo quy định tại Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP.

Chẳng hạn, trong thực tiễn xét xử, các trường hợp như tái phạm, hoặc người phạm tội thuộc một số trường hợp đặc biệt được quy định tại Điều 3 của Nghị quyết nêu trên có thể không được hưởng án treo dù mức hình phạt tù không quá 03 năm.

Vì vậy, khi đánh giá một trường hợp cụ thể, không nên chỉ căn cứ vào mức án mà cần kiểm tra toàn bộ điều kiện về nhân thân, tình tiết tăng nặng – giảm nhẹ, tính chất hành vi phạm tội và trường hợp loại trừ.

  1. Thời gian thử thách của án treo được xác định như thế nào?

Khi cho hưởng án treo, Tòa án đồng thời phải ấn định thời gian thử thách và giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo quy định. Nếu vi phạm nghĩa vụ hoặc thực hiện hành vi phạm tội mới trong những trường hợp luật định, người được hưởng án treo có thể phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Do đó, án treo không có nghĩa là người bị kết án được miễn trách nhiệm hình sự hoặc được xóa hình phạt tù. Đây vẫn là hình phạt tù nhưng được cho hưởng án treo, kèm theo thời gian thử thách và cơ chế giám sát, giáo dục.

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, việc đánh giá điều kiện hưởng án treo cần được thực hiện trên cơ sở hồ sơ vụ án và toàn bộ tình tiết liên quan đến bị cáo.

Do điều kiện hưởng án treo phụ thuộc vào nhiều yếu tố, người bị buộc tội nên được đánh giá cụ thể dựa trên tội danh, mức hình phạt dự kiến, nhân thân, tiền án – tiền sự, vai trò trong vụ án và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trước khi đưa ra phương án bào chữa.

PHÒNG PHÁP LÝ – VĂN PHÒNG LUẬT SƯ ĐỨC TRỌNG

Trụ sở chính Tầng 3, Tòa nhà Thương mại TTC Plaza Đức Trọng, 713 Quốc lộ 20, Đức Trọng, Lâm Đồng.
Văn phòng tại TP. HCM 520/75 Quốc lộ 13, phường Hiệp Bình, TP. Hồ Chí Minh.
Hotline 0961 523 300
Website luatductrong.com
Email ls.quynhmi@gmail.com
Văn phòng Luật sư Đức Trọng
Lấy Đức làm Trọng – Chấp pháp nghiêm minh

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *